Chuyển đến nội dung chính

Sơ cứu gãy thân xương cánh tay

Gãy thân xương cánh tay là tình trạng chiếm 3% tỷ lệ các ca gãy xương nói chung. Việc sơ cứu gãy thân xương cánh tay nếu không được thực hiện đúng thì bệnh nhân có thể gặp những biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân gãy thân xương cánh tay

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra gãy thân xương cánh tay, chẳng hạn như ngã chống tai, tai nạn trong sinh hoạt, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bị đánh đập dẫn đến gãy xương.

Người bị gãy thân xương cánh tay sẽ có nhiều biểu hiện như gãy ngang xương, gãy chéo, gãy xoắn, gãy có mảnh rời hay gãy vụn. Vị trí gãy cũng rất khác nhau như: gãy trên chỗ bám của cơ ngực lớn, gãy giữa chỗ bám của cơ ngực lớn và chỗ bám của cơ delta, gãy dưới chỗ bám của cơ delta.

Sơ cứu gãy xương thân cánh tay

Để sơ cứu bệnh nhân gãy xương tay, cần nhanh chóng để người bệnh nằm ở nơi an toàn, tư thế thuận lợi.

Để sơ cứu bệnh nhân bị gãy xương thân cánh tay, chúng ta cần:

– Đưa nạn nhân ra khỏi nơi bị nạn sau đó đặt nạn nhân nằm ở tư thế thuận lợi.

– Để vùng bị thương lộ ra ngoài, nếu cởi áo thì cởi ở bên lành trước sau đó mới đến bên bị thương, tốt nhất là dùng dao, kéo để xé áo ra, tránh động đến vết thương.

– Băng các vết thương hở chảy máu sau đó mới tiến hành băng nẹp đoạn xương bị gãy theo vị trí và cách gãy.

Với trường hợp gấp được khuỷu tay:

Nếu bệnh nhân bị gãy xương thân cánh tay và vẫn gấp được khuỷu tay, người sơ cứu cần để cánh tay bị gãy sát thân mình người bệnh ở tư thế co tay. Sau đó, dùng 2 nẹp để nẹp chặt tay. Chiếc nẹp thứ nhất đặt từ hố nách đến quá khuỷu tay, nẹp thứ hai đặt ở ngoài, kéo từ bả vai đến khớp khuỷu.

Người sơ cứu cũng có thể dùng nẹp Cramer làm thành góc 90 độ nẹp đỡ cả cánh tay lẫn cẳng tay.

Sau đó dùng dây rộng bản để cố định các nẹp, dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực tạo thành một góc vuông, bàn tay để ngửa, buộc thắt nút ở bên tay lành.

Dùng nẹp cố định vết thương bị gãy.

Trường hợp không gấp được khuỷu tay:

Trường hợp này nạn nhân không được cử động tay. Mọi người cần hỗ trợ nạn nhân dùng tay lành đỡ tay bị thương ở vị trí gãy sau đó đặt một miếng đệm dài giữa tay bị thương và thân. Dùng 3 dải băng rộng bản để cố định tay bị thương vào cơ thể ở các vị trí cổ tay với đùi, cánh tay với ngực và cẳng tay với bụng. Sau đó chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất, cần hạn chế động chạm đến vết gãy.

Với trường hợp gãy xương hở:

Người sơ cứu tuyệt đố không kéo đầu xương gãy vào trong. Dùng một miếng gạc hoặc vải sạch đặt lên vết thương hở, nơi có đầu xương chồi ra rồi dùng băng vải sạch để băng vết thương lại. Sau đó tiến hành cố định chỗ gãy như với trường hợp gãy xương kín đã nêu trên rồi chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

Gãy thân xương cánh tay nếu không sơ cứu đúng cánh có thể để lại những biến chứng nguy hiểm.

Các dụng cụ sơ cứu gãy thân xương cánh tay phải đủ độ dài từ 35-45 cm, rộng 5-6mm. Hãy tìm kiếm nẹp bằng tre, gỗ hoặc bất cứ vật liệu gì có sẵn để tiến hành sơ cứu.

Băng buộc nẹp phải đủ dài và chắc chắn, nếu không có băng y tế thì dùng bất cứ loại dây, sợi nào tìm được ở hiện trường để sơ cứu.

Trên đây là một số thông tin về sơ cứu gãy thân xương cánh tay. Nếu các bạn còn bất cứ thắc mắc nào hãy liên hệ với đội ngũ bác sĩ của đặt lịch bác sĩ để được hỗ trợ.

The post Sơ cứu gãy thân xương cánh tay appeared first on Đặt lịch bác sĩ Online.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Kiêng gì sau mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh?

Việc phải kiêng gì sau mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh là thắc mắc của nhiều nam giới mắc căn bệnh này. Phẫu thuật giúp điều trị bệnh hiệu quả song người bệnh cần có chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng, chăm sóc phù hợp. Có như vậy mới thắng được bệnh một cách triệt để. Việc phải kiêng gì sau mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh là thắc mắc của nhiều nam giới mắc căn bệnh này. Vậy cần kiêng gì sau mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh? Người bệnh nên kiêng một số điều dưới đây: – Tránh hoạt động quá mạnh, quá nhiều, đặc biệt khi mới mổ xong. Thời gian đầu sau ca mổ, nam giới cần kiêng hẳn việc chơi   thể thao. Sau khi hồi phục cũng nên hạn chế tập luyện các môn thể thao có cường độ mạnh như: điền kinh, bóng đá… Khi vết mổ và sức khỏe đã hồi phục hoàn toàn nên tập các môn nhẹ như đi bộ, tập dưỡng sinh, yoga mức độ nhẹ… – Không quan hệ tình dục ngay sau mổ. – Không nên tắm quá lâu, vì dễ làm cho vết thương bị ướt và nhiễm trùng. Không tắm nước quá nóng bởi nước nóng có thể làm giãn thành mạch. –...

Dễ sỏi thận vì lạm dụng vitamin C để tăng cường sức đề kháng trong mùa dịch

Trong mùa dịch Covid-19, rất nhiều người dân đã chủ động uống bổ sung vitamin C để tăng cường sức đề kháng, chống lại dịch bệnh. Tuy nhiên các bác sĩ cho biết việc lạm dụng vitamin C có thể ảnh hưởng tới chức năng của một số cơ quan trong cơ thể và tạo bệnh lý, trong đó phổ biến có sỏi thận. Lạm dụng vitamin C trong thời gian dài có thể dẫn tới nguy cơ mắc sỏi thận. Không nên sử dụng bừa bãi vitamin C Nhiều người nghĩ rằng việc bổ sung vitamin là vô hại, bao gồm cả vitamin C. Mặc dù vậy theo quan điểm của các bác sĩ, vitamin cho dù thừa hay thiếu đều không tốt. Chưa kể liều dùng ở mỗi người, nam – nữ, trẻ em – người lớn, người bình thường – người mắc bệnh…là hoàn toàn khác nhau. Sỏi thận là một trong những hệ quả của việc lạm dụng vitamin C trong thời gian dài. Nguyên nhân là do lượng vitamin C mà cơ thể hấp thu được sẽ được bài tiết trong  nước tiểu ở dạng oxalat. Oxalat và canxi kết hợp sẽ tạo thành những tinh thể nhỏ, về lâu dài trở thành sỏi thận. Bên cạnh đó, việc sử ...

Sỏi thận tác động đến cơ thể như thế nào?

Sỏi thận là loại sỏi thường gặp nhất ở đường tiết niệu. Bệnh thường biểu hiện trong âm thầm ở giai đoạn đầu nên nhiều người bệnh có tâm lý chủ quan, tự ý mua thuốc uống, thậm chí là không quan tâm vì chưa thấy đau hay khó chịu. Tuy nhiên nếu không được điều trị đúng cách và kịp thời, sỏi thận sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh. Sỏi thận hình thành do sự kết tinh của một số thành phần trong nước tiểu. Biến chứng của sỏi thận Trước hết sự di chuyển của sỏi, đặc biệt là những sỏi có gai nhọn xù xì sẽ cọ xát vào đường niệu gây ra những cơn đau lưng, đái ra máu nếu sỏi ở thận, niệu quản. Chưa kể sỏi cọ xát vào đường niệu sẽ dẫn tới nguy cơ nguy cơ niêm mạc bị phù nề, viêm, là điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm đường tiểu. Người bệnh sẽ thấy đau lưng, đái buốt, đái rắt, đái đục. Nếu nhiễm khuẩn nặng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy thận. Viêm nhiễm nặng ở đường tiểu còn làm hoại tử đường t...